[4.3] Các biểu hiện ở giai đoạn muộn của Glôcôm góc mở mạn tính khi bệnh đã tiến triển nặng.

[4] Glôcôm góc mở mạn tính có triệu chứng gì?

4.3.1. Hội chứng thị trường hình ống (Tunnel Vision) và sự bám trụ cuối cùng của bó thần kinh gai - hoàng điểm

4.3.2. Sự teo lõm đĩa thị toàn bộ (Total Optic Disc Cupping) và sự biến mất của mạng lưới vi tuần hoàn đĩa thị

4.3.3. Tổn thương chức năng tương phản và hiện tượng "xóa sổ" thị lực trung tâm đột ngột (Wipe-out Phenomenon)

4.3.4. CẢNH BÁO HẬU QUẢ CỘNG DỒN DÀI HẠN

Góc độ chuyên môn:

Sự tiến triển đến giai đoạn muộn của bệnh glôcôm góc mở mạn tính là minh chứng cho một thất bại kéo dài trong việc bảo vệ hệ thống thần kinh trung ương, dẫn đến các hậu quả giải phẫu bệnh tàn khốc và bất khả nghịch:

Cơ chế của hậu quả này là sự cạn kiệt tuyệt đối "nguồn dự trữ thần kinh" (neural reserve). Khi số lượng tế bào hạch võng mạc (RGC) giảm xuống dưới ngưỡng tới hạn sinh tồn (critical threshold), não bộ mất hoàn toàn khả năng nhận tín hiệu điện sinh lý. Nhãn cầu lúc này chỉ còn là một cấu trúc sinh học vô hồn, dây thần kinh thị giác bị teo nhỏ và biến thành một dải mô sẹo xơ cứng kết nối vào não bộ một cách vô nghĩa.

Góc độ tư vấn bệnh nhân:

Rất nhiều bệnh nhân khi được chẩn đoán mắc bệnh glôcôm góc mở mạn tính giai đoạn muộn vẫn chìm đắm trong sự tự lừa dối bản thân: "Tôi biết mắt tôi sắp mù, nhưng tôi sẽ bán nhà để ra nước ngoài điều trị. Y học hiện đại bây giờ có thể ghép tim, ghép gan, thì chắc chắn sẽ có cách ghép mắt người chết cho tôi, hoặc cấy ghép tế bào gốc để thần kinh mắt mọc lại sáng như bình thường".

Dưới góc độ chuyên môn nhãn khoa đanh thép, sự huyễn hoặc này sẽ chỉ dẫn đến sự tuyệt vọng tột cùng. Bác sĩ phải nói rõ bản chất khoa học một cách tàn nhẫn để bệnh nhân ngừng theo đuổi các phương pháp lang băm lừa đảo: Dây thần kinh thị giác chứa khoảng 1.2 triệu sợi trục, là một bộ phận trực tiếp của não bộ. Việc ghép giác mạc ở phần trước của mắt là có thật, nhưng TUYỆT ĐỐI KHÔNG CÓ bất kỳ ca phẫu thuật "ghép toàn bộ nhãn cầu" hay "ghép dây thần kinh thị giác" nào trên thế giới có thể thành công, bởi vì con người không thể nối lại 1.2 triệu sợi cáp thần kinh vi mô vào đúng tọa độ của thùy chẩm trong não. Một khi mù lòa do bệnh glôcôm xảy ra, bóng tối đó là bản án chung thân vĩnh viễn không có thuốc giải.

Do đó, đối với bệnh nhân ở giai đoạn muộn, TUYỆT ĐỐI KHÔNG ĐƯỢC từ bỏ việc điều trị chỉ vì nghĩ "đằng nào cũng mù". Lộ trình hành động khắc phục bắt buộc: Việc nhỏ thuốc hạ áp lực nội nhãn hoặc phẫu thuật (nếu bác sĩ chỉ định) lúc này phải được tuân thủ nghiêm ngặt đến mức cực đoan, không phải để lấy lại ánh sáng, mà để BẢO VỆ CHÚT THỊ LỰC ỐNG CUỐI CÙNG trong thời gian lâu nhất có thể. Đồng thời, nếu mắt đã mù hoàn toàn, việc duy trì nhãn áp thấp là bắt buộc để ngăn chặn các cơn đau nhức dữ dội vỡ đầu do nhãn áp tăng vọt trong một con mắt mù (tình trạng mắt mù đau nhức - painful blind eye), giúp bệnh nhân không phải trải qua phẫu thuật múc bỏ nhãn cầu một cách đau đớn.

TS BS HÀ HUY THIÊN THANH

Zalo Messenger Gọi điện Gửi câu hỏi
Mở File Gốc
YouTube Facebook
Chưa chọn bài viết

Vui lòng chọn một bài viết từ danh mục bên trái để xem chi tiết.