[2.1] Cơ chế tăng trở kháng đường thoát thủy dịch tại vùng bè giác mạc - củng mạc gây ra gây glôcôm góc mở mạn tính.

[2] Nguyên nhân nào gây glôcôm góc mở mạn tính?

2.2.1. Cơ chế cơ học của áp lực nội nhãn tác động trực tiếp lên lá sàng (Lamina cribrosa) tại đầu dây thần kinh thị giác

2.2.2. Cơ chế thiếu máu cục bộ tại đầu dây thần kinh thị giác do áp lực nội nhãn cản trở tuần hoàn (Thuyết mạch máu)

2.2.3. Dao động áp lực nội nhãn (IOP fluctuation) và vai trò của việc thiết lập nhãn áp đích (Target IOP)

2.2.4. CẢNH BÁO HẬU QUẢ CỘNG DỒN DÀI HẠN

Góc độ chuyên môn:

Việc quản lý áp lực nội nhãn trong bệnh glôcôm góc mở mạn tính không đúng cách sẽ dẫn đến các hệ lụy giải phẫu và chức năng âm thầm nhưng không thể đảo ngược:

Cơ chế của hậu quả này nằm ở đặc tính sinh học của tế bào hạch võng mạc (RGC): Đây là các nơ-ron thuộc hệ thần kinh trung ương. Một khi chúng đã bị nén ép cơ học và thiếu máu đến mức kích hoạt quá trình tự chết (apoptosis), chúng tuyệt đối không có khả năng phân bào, không có khả năng tái sinh và không thể phục hồi bằng bất kỳ loại thuốc hay phẫu thuật nào hiện nay. Tiến trình phá hủy cấu trúc này là sự cộng dồn tổn thương qua từng tháng, từng năm bị quá tải áp lực.

Góc độ tư vấn bệnh nhân:

Rất nhiều bệnh nhân glôcôm góc mở mạn tính tự bao biện bằng suy nghĩ cực kỳ nguy hiểm: "Thị lực trung tâm của mình nhìn bảng chữ cái vẫn nét 10/10, mắt không hề đau nhức. Nhỏ thuốc hạ áp lực nội nhãn hàng ngày làm mắt bị đỏ, khô và vướng víu quá nên mình tự ý nghỉ nhỏ thuốc vài ngày hoặc vài tháng cũng chẳng sao".

Dưới góc độ giải phẫu và sinh lý bệnh nhãn khoa, tư duy "đợi mờ mới chữa" này là bản án tử hình đối với thị giác. Bệnh glôcôm góc mở mạn tính là "kẻ cắp thị lực thầm lặng", nó ăn mòn thị trường ngoại vi (tầm nhìn xung quanh) trước. Bệnh nhân không nhận ra sự thu hẹp này vì não bộ có cơ chế tự động điền khuyết hình ảnh (fill-in phenomenon). Đến thời điểm bệnh nhân cảm nhận được thị lực trung tâm bắt đầu mờ đi, giải phẫu bệnh học chỉ ra rằng hơn 90% số lượng sợi thần kinh thị giác đã chết hoại tử hoàn toàn. Lúc này, dù có can thiệp y khoa mạnh nhất cũng không thể cứu vãn được ánh sáng, mù lòa vĩnh viễn là đích đến chắc chắn.

Do đó, bệnh nhân TUYỆT ĐỐI KHÔNG ĐƯỢC tự ý bỏ thuốc hạ áp lực nội nhãn dù chỉ một ngày, bất kể mắt đang cảm thấy bình thường như thế nào. Việc tuân thủ nhỏ thuốc đúng giờ, tái khám định kỳ để chụp cắt lớp quang học bó sợi thần kinh (OCT) và đo thị trường (Visual Field test) là con đường sống còn duy nhất để bảo tồn số lượng tế bào thần kinh thị giác ít ỏi còn sót lại.

TS BS HÀ HUY THIÊN THANH

Zalo Messenger Gọi điện Gửi câu hỏi
Mở File Gốc
YouTube Facebook
Chưa chọn bài viết

Vui lòng chọn một bài viết từ danh mục bên trái để xem chi tiết.