[3.2] Diễn tiến lâm sàng qua từng giai đoạn của bệnh Viêm kết mạc do vi-rút.

[3] Viêm kết mạc do vi-rút có những triệu chứng gì?

3.2.1 Giai đoạn ủ bệnh và khởi phát cấp tính: Sự thâm nhập nội bào và sụp đổ hàng rào biểu mô

3.2.2 Giai đoạn toàn phát (Đỉnh điểm đáp ứng viêm): Cuộc chiến mô bạch huyết và hình thành giả mạc

3.2.3 Giai đoạn thoái lui và biến chứng giác mạc muộn: Sự hình thành thâm nhiễm dưới biểu mô (SEIs)

3.2.4 CẢNH BÁO HẬU QUẢ CỘNG DỒN DÀI HẠN

Việc buông xuôi điều trị ở giai đoạn thoái lui, hoặc tự ý ngắt quãng phác đồ khi mắt vừa hết đỏ, sẽ kích hoạt các hậu quả tàn phá cấu trúc âm thầm và vĩnh viễn trên toàn bộ hệ thống bề mặt nhãn cầu.

Các dấu hiệu và hệ lụy lâm sàng báo động đỏ bao gồm: Tình trạng thị lực giảm sút, nhìn một vật thành bóng đôi hoặc nhòe mờ không thể cải thiện bằng kính gọng thông thường [HẬU QUẢ TÍCH LŨY], cảm giác khô rát, cộm như có cát cào xé nhãn cầu mỗi lần chớp mắt kéo dài nhiều năm [HẬU QUẢ TÍCH LŨY], và sự hạn chế vận động liếc mắt do mí mắt bị dính chặt vào nhãn cầu [HẬU QUẢ TÍCH LŨY].

Cơ chế phá hủy cấu trúc lâu dài: Nếu các ổ thâm nhiễm dưới biểu mô giác mạc (SEIs) ở giai đoạn cuối không được kiểm soát bằng thuốc điều hòa miễn dịch, các nguyên bào sợi (fibroblasts) sẽ thay thế các tế bào viêm, tổng hợp ra collagen rối loạn để tạo thành các nốt sẹo giác mạc vĩnh viễn (corneal scarring). Các sẹo này làm bề mặt giác mạc gồ ghề vĩnh viễn, gây loạn thị không đều. Cùng thời điểm đó, nếu các tổn thương xơ hóa từ lớp giả mạc trên kết mạc không được xử lý, chúng sẽ phá hủy tận gốc mạng lưới tế bào đài (goblet cells) sản xuất lớp nhầy mucin, và bít tắc hoàn toàn các ống dẫn của tuyến lệ phụ (tuyến Kraus và Wolfring). Nhãn cầu sẽ rơi vào tình trạng suy kiệt chất bôi trơn vĩnh viễn, kéo theo hội chứng khô mắt mạn tính mức độ nặng, bề mặt mắt sẽ bị bào mòn và sừng hóa dần theo thời gian.

TS BS HÀ HUY THIÊN THANH

Zalo Messenger Gọi điện Gửi câu hỏi
Mở File Gốc
YouTube Facebook
Chưa chọn bài viết

Vui lòng chọn một bài viết từ danh mục bên trái để xem chi tiết.