[4.1] Phân biệt viêm kết mạc do vi-rút với viêm kết mạc do vi khuẩn.

[4] Làm sao phân biệt viêm kết mạc do vi-rút với các nguyên nhân đỏ mắt khác?

4.1.1 Dịch tiết nhãn cầu và Cơ chế đáp ứng miễn dịch tế bào (Nước mắt trong suốt so với Mủ đặc)

4.1.2 Trình tự lây nhiễm giải phẫu và Phản ứng hệ bạch huyết khu vực (Hạch trước tai)

4.1.3 Biến đổi hình thái cấu trúc mô đệm kết mạc (Phản ứng Nang lympho so với phản ứng Nhú gai)

4.1.4 CẢNH BÁO CẤP CỨU NHÃN KHOA

Một trong những cạm bẫy lâm sàng thảm khốc nhất là việc chẩn đoán nhầm Viêm kết mạc do vi khuẩn lậu (Neisseria gonorrhoeae) thành một ca viêm kết mạc do vi-rút thông thường hoặc tự ý điều trị sai lầm. Lậu cầu khuẩn gây ra bệnh cảnh "Viêm kết mạc mủ tối cấp" (Hyperacute purulent conjunctivitis) - một trong những tình trạng đe dọa mù lòa nhanh nhất trong nhãn khoa.

Các dấu hiệu lâm sàng báo động đỏ bao gồm: Dịch mủ màu vàng xanh đặc quánh trào ra liên tục thành dòng, mí mắt sưng phù khổng lồ căng bóng như quả bóng chướng nước [CẤP CỨU], vừa dùng gạc lau sạch mủ thì chỉ 10 đến 15 phút sau mủ lại đầy tràn lấp kín buồng mắt [CẤP CỨU], và cơn đau nhức nhãn cầu dữ dội tăng lên từng giờ [CẤP CỨU].

Cơ chế hoại tử giải phẫu: Không giống như đa số các vi khuẩn thông thường hoặc vi-rút cần có vết xước cơ học mới thâm nhập được, Lậu cầu khuẩn (Neisseria gonorrhoeae) sở hữu các pili bề mặt có khả năng bám dính và khoan thủng trực tiếp qua lớp tế bào biểu mô giác mạc hoàn toàn nguyên vẹn (intact corneal epithelium). Khi lậu cầu tràn vào nhu mô giác mạc, chúng kích hoạt phản ứng giải phóng enzyme phân hủy protein khổng lồ. Mức độ khẩn cấp chuyên môn được tính bằng giờ. Trực khuẩn lậu có sức mạnh làm tan chảy toàn bộ chiều dày của giác mạc người, gây thủng nhãn cầu chỉ trong vòng 24 đến 48 giờ kể từ khi khởi phát triệu chứng.

TS BS HÀ HUY THIÊN THANH

Zalo Messenger Gọi điện Gửi câu hỏi
Mở File Gốc
YouTube Facebook
Chưa chọn bài viết

Vui lòng chọn một bài viết từ danh mục bên trái để xem chi tiết.